Thứ Hai, 17 tháng 7, 2017

Đột quỵ có phải là cơn đau tim?

Đột quỵ và đau tim liên quan đến sự hình thành các cục máu đông, gây tắc nghẽn động mạch và có những biểu hiện làm cho người bệnh rất khó phân biệt.

Tuy vậy, hai căn bệnh này có nhiều điểm khác nhau, cơn đau tim là cơn đau có liên quan benh tim mach, còn tai biến mạch máu não hay đột quỵ liên quan đến não. bạn cần biết nhịp tim bình thường là bao nhiêu

Đột quỵ - đột quỵ là gì


- Nguyên nhân đột quỵ
Đột quỵ là sự ngưng trệ đột ngột dòng máu cung cấp cho não, xảy ra khi một mạch máu nuôi não bị nghẽn tắc (còn gọi là nhũn não) hoặc mạch máu nuôi não bị vỡ (đột quỵ do xuất huyết não). Khi đó, phần não bị thiếu máu nuôi do tắc nghẽn (do nhũn não), bị chèn ép (do bị vỡ mạch máu não) sẽ không thể hoạt động được, khiến phần cơ thể chịu sự chi phối của não cũng không thể hoạt động được dẫn đến bị yếu hoặc liệt.

- Biểu hiện và hậu quả:

Các triệu chứng của đột quỵ chỉ xảy ra trong một thời gian ngắn và hậu quả của đột quỵ phụ thuộc vào phần nào của não bị tổn thương và mức độ tổn thương như thế nào, như: có thể gây nên yếu liệt, mất cảm giác, hoặc khó nói, giảm thị lực, mất thăng bằng. Ngoài ra, trong một số trường hợp có thể có biểu hiện đau đầu nhưng đa số hoàn toàn không có.

Để có thể phát hiện sớm đột quỵ có thể dựa vào các biểu hiện như nói ngọng, rối loạn trí nhớ, không phân biệt được những gì đang xảy ra xung quanh; mắt mờ cả hai hoặc một bên, thị lực giảm, đau đầu đột ngột hoặc đau nửa đầu; mất khả năng điều phối các hoạt động thể chất, chóng mặt hoặc đi lại khó khăn; đau cơ bắp, mất cảm giác, tê ở nhiều bộ phận, đặc biệt là ở một bên của cơ thể ngược lại với phía não bị ảnh hưởng.

- Người có nguy cơ cao:

Ngày nay, đột quỵ là nguyên nhân gây tử vong lớn thứ tư tại các nước phát triển và còn là nguyên nhân chính gây tàn tật nghiêm trọng và lâu dài. Những người trên 55 tuổi có nhiều khả năng bị đột quỵ hơn và người càng lớn tuổi thì nguy cơ bị đột quỵ càng cao. Người bị đái tháo đường hay bệnh tim là những người có nguy cơ bị đột quỵ nhiều nhất. Huyết áp cao, cholesterol trong máu cao không điều trị, không kiểm soát được hoặc người hút thuốc lá, người mắc bệnh tim là những đối tượng có nguy cơ cao về đột quỵ.

Đau tim


Nguyên nhân đau tim:

Cơn đau tim (hay còn gọi là nhồi máu cơ tim) xuất hiện khi một nhánh của động mạch vành mang máu đến nuôi dưỡng cơ tim đột ngột bị bít kín bởi một khối máu đông, gây thiếu máu cục bộ trên cơ tim và dẫn đến hoại tử cơ tim. Khi cơ tim bị hoại tử sẽ gây ra tình trạng đau ngực.

cơn đau tim

Đau ngực có thể là dấu hiệu của cơn đau tim

- Biểu hiện và hậu quả:

Các biểu hiện thường gặp trong cơn đau tim gồm đau ngực trái lan lên vai, lên cổ; người bệnh có cảm giác khó thở và có cảm giác tim bị thắt lại hoặc tức ngực như có ai đè lên; người bệnh toát mồ hôi, hoảng hốt.

Tuy nhiên, cơn đau tim cũng có thể biểu hiện rất nhẹ nhàng, chỉ với biểu hiện đau hoặc khó chịu ở ngực. Trong trường hợp này, người biểu hiện đau ngực thường rất mơ hồ, mờ nhạt bằng những cảm giác nặng ngực, tức ngực hoặc co thắt ở ngực. Trong một số trường hợp, cảm giác đau hoặc khó chịu ở ngực có thể lan tới tận cổ, lưng, hàm, tay và vai. Đặc điểm của cơn đau tim là chúng thường xuất hiện từ lúc sáng sớm cho đến giữa trưa tức là khoảng từ 4 - 10h sáng và có khoảng 1/4 các cơn đau tim diễn ra rất thầm lặng, không có biểu hiện đau ngực, nhất là ở những người có bệnh lý đi kèm như đái tháo đường, tăng huyết áp. Ngoài ra, trong bệnh lý đau tim ngoài triệu chứng đau ngực, người bệnh còn có thể bị tê hoặc yếu ở mặt, cánh tay hoặc chân, nhất là nếu chúng xuất hiện ở cùng một bên, bị rối loạn trí nhớ, không nói được hoặc không hiểu điều người khác nói, nhìn mờ ở một hoặc cả 2 mắt, không bước đi được, chóng mặt, mất thăng bằng hoặc mất khả năng thực hiện các động tác, đau đầu dữ dội, không rõ lý do, buồn nôn hoặc nôn, khó thở, đổ mồ hôi, mệt lả, thậm chí là ngất.

Đau tim ở nam giới và nữ giới hoàn toàn không giống nhau, đó là ở phụ nữ thường không có biểu hiện đau ngực điển hình mà thay vào đó là các biểu hiện như ợ nóng, buồn nôn, khó thở, đổ mồ hôi, mệt lả.

Lời khuyên của thầy thuốc

Người bệnh và người nhà cần hết sức bình tĩnh và đến ngay cơ sở y tế chuyên khoa để được khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời vì cả 2 bệnh này đều phải hết sức khẩn trương và tranh thủ từng phút một mới mong cứu sống. Tuyệt đối khi người bệnh có những biểu hiện bệnh, không nên cắt, lể, cạo gió, xoa bóp, vì như thế càng làm chậm, mất thời gian rất nguy hiểm đến tính mạng.

Chủ Nhật, 16 tháng 7, 2017

Nguyên nhân gây đau nhức toàn thân và cách điều trị

Nguyên nhân gây đau nhức xương khớp toàn thân và cách điều trị bạn cần biết để khắc phục nhanh những khó chịu do chúng gây ra, đồng thời phòng chống chứng đau nhức toàn thân hiệu quả. Dưới đây là một số thông tin hữu ích dành cho bạn.

Chứng đau nhức toàn thân có thể gặp ở nhiều độ tuổi và nhiều đối tượng khác nhau, thường gặp nhất ở nữ giới ngoài 35 tuổi. Biểu hiện bằng các triệu chứng điển hình như:

+ Đau cơ, nhức mỏi khắp toàn thân, tại nhiều vị trí trên cơ thể: đau cổ, đau lưng, đau chân, đau cột sống,… và có chiều hướng tăng lên khi vận động.

+ Cảm giác mệt mỏi, uể oải, buồn ngủ thường xuyên và không thể tập trung công việc.

+ Trằn trọc khó ngủ, ngủ không sâu giấc và thường xuyên bị thức giấc giữa chừng.

+ Triệu chứng về thần kinh: căng thẳng thường trực, nhức đầu một bên, đãng trí, chứng trầm cảm,…

+ Một số trường hợp còn trở nên nhạy cảm hơn với mùi, với ánh sáng, với tiếng động.

Nguyên nhân gây bệnh xương khớp

Nguyên nhân gây đau vai gáy có thể được xác định bởi:

– Bệnh thoái hóa xương khớp: Thường gặp ở độ tuổi ngoài 30, khi các lớp sụn khớp bị thoái hóa, cọ vào nhau gây đau đớn cho người bệnh. Tùy vị trí khớp bị thoái hóa mà gây ra cảm giác đau đớn tại khớp đó, đôi khi còn gây đau mỏi khắp toàn thân. Ví dụ:

+ Nếu bị bệnh thoái hóa đốt sống cổ sẽ làm đau vùng cổ và lan sang 2 cánh tay.

+ Nếu thoái hóa đốt sống lưng, bẹn thì sẽ làm đau lưng và bẹn, lan xuống 2 chân.

– Sự rối loạn hệ thống thần kinh nội tiết: Các giả thuyết cho rằng: tác nhân chính gây nên tình trạng này là do sự làm việc bất ổn định của hệ thống thần kinh nội tiết. Bởi lẽ, gần như các cơ quan trong cơ thể chúng ta đều bị chi phối bởi hệ thần kinh nội tiết. Nếu gặp các trục trặc tại bộ phận này, chúng sẽ thông báo cụ thể bằng các cơn đau và kèm theo những triệu chứng như trên.

Bên cạnh đó, người ta còn nhận định rằng: có một số yếu tố nguy cơ khiến tình trạng đau nhức toàn thân xuất hiện và thúc đẩy chúng ngày càng nặng hơn, như:

+ Yếu tố di truyền: chứng bệnh này có yếu tố gia đình, liên quan đến nhiều vị trí gen trong hệ thống serotonin, dopamin và catecholamin được nhiều người giả định.

+ Stress: Stress có thể làm thay đổi chức năng của axit HPA , từ đó làm thay đổi hàm lượng cortisone trong cơ thể, dẫn đến đau lan toả toàn thân và kéo dài.

+ Rối loạn giấc ngủ: giấc ngủ chập chờn không sâu, khó ngủ,… có thể gây đau nhức toàn thân. Đó là lý do vì sao đây cũng là triệu chứng phổ biến trong chứng bệnh này.

 nguyen-nhan-gay-dau-nhuc-toan-than-va-cach-dieu-tri22

Rối loạn giấc ngủ cũng là nguyên nhân gây đau nhức toàn thân

+ Các yếu tố khác: Bất thường về dopamine, nhiễm vi-rút (Epstein Barr Virus), bất thường miễn dịch (bệnh lý tự miễn),… cũng làm tăng nguy cơ bị nhức mỏi toàn thân.

Cách điều trị đau nhức toàn thân hiệu quả

Điều trị đau nhức toàn thân hiệu quả cần căn cứ vào nguyên nhân gây bệnh để điều chỉnh một số yếu tố cũng như khắc phục triệt để. Chữa đau nhức toàn thân có thể dùng thuốc hay sử dụng biện pháp không dùng thuốc:

* Dùng thuốc chữa đau nhức toàn thân:

Một số thuốc được chỉ định dùng để đối phó hiệu quả với những cơn nhức mỏi toàn thân, nhưng tuyệt đối không được tự ý mua thuốc dùng khi chưa có sự cho phép của bác sĩ.

nguyen-nhan-gay-dau-nhuc-toan-than-va-cach-dieu-tri1

Điều trị nhức mỏi toàn thân có thể dùng thuốc

– Thuốc ức chế serotonine-norepinephrin.

– Thuốc giảm đau, như: nhóm thuốc chống viêm không steroid, ức chế COX-2, Tramadol, Pregabalin (Lyrica),…

– Thuốc giãn cơ, như: Myonal, Mydocalm, Contramyl.

– Tiêm tại các điểm đau bằng corticoid (Hydrocortisone, Depo-Medrol,…

– Thuốc kháng dopamine, như: pramipexol (Mirapex), rropiroloe (Requip),…

* Chữa đau nhức toàn thân không cần dùng thuốc:

– Vật lý trị liệu với vận động liệu pháp, nhiệt trị liệu, thuỷ trị liệu, xoa bóp, châm cứu… và dùng tâm lý trị liệu mang lại hiệu quả cao với bệnh nhân bị bệnh đau nhức toàn thân, đặc biệt với người bệnh ở giai đoạn khởi phát.

Ngoài việc dùng thuốc, để hỗ trợ chữa trị mang lại kết quả nhanh và lâu dài, đồng thời phòng đau nhức toàn thân hữu hiệu bạn cần điều chỉnh các thói quen sinh khoa học nhất là giấc ngủ; có tư thế làm việc hợp lý và vận động thường xuyên hơn; hạn chế sử dụng các chất kích thích,…

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2017

Trị bệnh xương khớp ở người cao tuổi: Các khuyến cáo mới

Người cao tuổi hay mắc các bệnh đau nhức xương khớp . Phổ biến nhất là loãng xương và thoái hóa khớp. Việc điều trị kịp thời sẽ giúp bệnh nhân giảm đau đớn, cải thiện vận động...

Bệnh Gout - Bệnh gout là gì ?

Trước tỉ lệ người mắc bệnh Gút ngày càng gia tăng như hiện nay, việc nhận biết sớm các triệu chứng bệnh Gút sẽ giúp chúng ta có phương pháp điều trị kịp thời, tránh được những biến chứng gây ảnh hưởng đến khả năng vận động và cuộc sống sinh hoạt hằng ngày. Do đó, cũng có nhiều người thắc mắc làm thế nào để nhận biết các triệu chứng bệnh Gút? Chú ý những dấu hiệu sau đây sẽ giúp chúng ta rất nhiều trong việc phát hiện căn bệnh này.

Bệnh gút còn được gọi là thống phong, là một dạng viêm khớp thường gặp do sự tích tụ quá nhiều axit uric trong máu. Đây là căn bệnh có diễn tiến khá âm thầm và khởi phát đột ngột kèm theo theo những cơn đau nhức tại các khớp như ngón chân, bàn chân, mắt cá chân, ngón tay, bàn tay…

Có nhiều nguyên nhân gây ra bệnh Gút, trong đó, chế độ ăn uống với những thực phẩm chứa nhiều chất purin thường dẫn đến lượng axit uric tăng cao rất dễ khiến nhiều người mắc bệnh Gút.

Điều trị loãng xương - Đau nhức xương khớp toàn thân

Với người cao tuổi, việc điều trị có sự khác biệt ở các lứa tuổi khác nhau và tình trạng loãng xương có gãy xương, không gãy xương và các bệnh kèm theo.

Một số thuốc dùng để điều trị loãng xương như:

Bisphosphonate: Các bisphosphonate được chia làm hai nhóm, các bisphosphonate không có amin và bisphosphonate có amin (pamidronate).

Bisphosphonate được tìm ra từ thế kỷ 19 nhưng đến năm 1960 được sử dụng trong các bệnh xương chuyển hóa, sau này sử dụng trong điều trị tăng canxi máu và các bệnh xương ác tính. Năm 1990 mới chứng minh được cơ chế tác dụng. Bisphosphonate dạng uống sử dụng để phòng gãy xương loãng xương gồm alendronate (fosamax), risedonate (actonel), didronel,... và bisphosphonates dạng tiêm truyền tĩnh mạch (aredia, zometa, aclasta). Trong điều trị loãng xương có gãy xương, các hiệp hội loãng xương khuyến cáo nên sử dụng aclasta truyền tĩnh mạch mỗi năm một lần và liên tục 3 năm. Aredia sử dụng trong các trường hợp tăng canxi máu. Còn zometa chỉ định trong điều trị hủy xương do ung thư.

Loãng xương là bệnh gia tăng khi tuổi cao và cần dùng thuốc điều trị phù hợp.

Vitamin D dùng 800 - 1.000 IU/ngày với những người từ 50 tuổi trở lên.

Điều trị loãng xương theo lứa tuổi 60-80 và ngoài 80 tuổi. Người cao tuổi, ít hoạt động ngoài trời, cần chú ý tình trạng thiếu vitamin D. Nhiều người già không những giảm khối lượng xương mà còn giảm khối cơ vì vậy nguy cơ ngã cao.

Để cho hệ vận động được tốt, người cao tuổi nên tham gia các hoạt động thể lực thường xuyên rất cần thiết, đi cầu thang bộ. Ngoài chế độ dinh dưỡng và tận hưởng ánh nắng mặt trời trước 9 giờ sáng và cũng cần kiểm tra lượng vitamin D của bản thân có đủ hằng số sinh lý. Bên cạnh đó, cần cung cấp đủ canxi, protein, bổ sung đủ nước. Thầy thuốc chọn lựa thuốc điều trị loãng xương tùy thuộc các đặc điểm riêng của từng người bệnh. Thầy thuốc và người bệnh nên có sự liên hệ để theo dõi đáp ứng của thuốc và tác dụng không mong muốn do thuốc gây ra. Ở người ngoài 80 tuổi, việc luyện tập cần chú ý đề phòng té ngã vì nguy cơ gãy xương rất cao ở người cao tuổi.
Lưu ý, không sử dụng loại raloxifen vì không phòng được gãy cổ xương đùi và thuốc này làm tăng nguy cơ huyết khối. Điều trị loãng xương cho người già ngoài 80 tuổi không những sử dụng các thuốc làm giảm nguy cơ gãy xương cột sống, gãy cổ xương đùi, gãy cổ tay, mà cần chú ý dự phòng nguy cơ té ngã. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, có khoảng 40% người trên 65 tuổi giảm thính giác, vì vậy việc hướng dẫn uống thuốc, tập luyện cho người già phải rõ ràng và cụ thể.

Điều trị thoái hóa khớp

Một số thuốc thường dùng trong điều trị thoái hóa khớp:

Thuốc giảm đau (paracetamol), thuốc chống viêm không steroid chỉ  sử  dụng một  trong số  các  thuốc: celecoxib, etoricoxib, meloxicam, diclofenac. Thuốc chống viêm giảm đau chỉ sử dụng trong đợt tiến triển của bệnh và chú ý các tác dụng không mong muốn trên dạ dày, ruột, thận, tim mạch...

Thuốc điều trị cơ bản giúp ức chế hủy sụn khớp như glucosamin sulfat, piascledin, có tác dụng tăng cường tái tạo sụn, ức chế các men phá hủy sụn, giảm dần quá trình viêm đau khớp, làm chậm quá trình bệnh thoái hóa khớp.

Điều trị thoái hóa khớp với phương pháp không dùng thuốc như giảm cân, tắm bùn khoáng, vật lý trị liệu có thể tăng khả năng vận động của khớp. Để điều trị thoái hóa khớp ở người cao tuổi cần dựa trên từng trường hợp cụ thể. Với người quá béo nên sử dụng phương pháp không dùng thuốc, giảm cân, chườm lạnh vào khớp gối trong đợt tiến triển của thoái hóa khớp. Đặc biệt, khi sử dụng thuốc chống viêm giảm đau phải chú ý đến chức năng thận, các thuốc giảm đau dùng ngắn ngày trong các đợt tiến triển. Người cao tuổi thường mắc các bệnh tim mạch, đái tháo đường do vậy hạn chế sử dụng thuốc chống viêm không steroid. Hiện nay, trên thị trường đã có sản phẩm có tác dụng thay đổi cấu trúc của sụn khớp, ngăn ngừa thoái hóa sụn khớp, xương dưới sụn, ít tác dụng phụ và sử dụng được cho người mắc các bệnh tim mạch.

Thoái hóa khớp do các tế bào sụn khớp bị thoái hóa và mất cân bằng chuyển hóa dẫn đến mất khả năng tổng hợp proteoglycan cấu tạo nên sụn khớp làm cho sụn khớp dần dần bị phá hủy. Giai đoạn đầu của thoái hóa khớp, nên dùng các sản phẩm có tác dụng kích thích tế bào sụn tăng sinh tổng hợp proteoglycan, cung cấp dinh dưỡng cho sụn khớp và làm sụn khớp trơn láng, kích thích cơ thể sản xuất các sợi collagen, bảo vệ sự đàn hồi của khớp giúp tái tạo sụn khớp, ức chế một số enzym phá hủy sụn khớp và các enzym kích hoạt phản ứng viêm. Có thể sử dụng sụn cá mập cho người cao tuổi để kích thích tế bào sụn sản xuất proteoglycan..
 
Lời khuyên cho người bệnh

Việc sử dụng thuốc cho người cao tuổi cần tuân thủ chỉ định của thầy thuốc để tránh các tác dụng không mong muốn của thuốc, lưu ý tương tác thuốc và các bệnh kết hợp ở người cao tuổi. Bên cạnh đó cũng cần nâng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh.

Ngoài ra, để điều trị bệnh thoái hóa khớp cho người cao tuổi còn có các phương pháp siêu âm, hồng ngoại, chườm nóng, liệu pháp suối khoáng, bùn có hiệu quả cao. Giai đoạn thoái hóa cuối cùng của khớp gối, người bệnh sử dụng các phương tiện xe lăn, vấn đề phẫu thuật thay khớp nhân tạo được áp dụng. Bên cạnh thoái hóa khớp, ở người cao tuổi thường hay loãng xương đi kèm vì vậy tránh kéo giãn cột sống. Đi bộ hoặc đạp xe tại chỗ là các biện pháp tập luyện tốt.

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2017

Bệnh lao phổi: Nguyên nhân, triệu chứng và những biến chứng nguy hiểm

Bệnh lao phổi tính đến thời điểm này không còn là bệnh nan y nữa, mà là căn bệnh có thể chữa khỏi hoàn nếu người bệnh tuân thủ theo chỉ định của bác sĩ. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều bệnh nhân không tuân thủ phác đồ điều trị dẫn đến tình trạng lao đa kháng thuốc.

Bệnh lao phổi được chia ra thành 2 thể chính là lao phổi và lao ngoài phổi.

Lao phổi là thể lao hay gặp nhất, chiếm tới 80% các trường hợp mắc lao. Đó là những bệnh nhân khi xét nghiệm đờm có vi khuẩn lao là nguồn lây truyền bệnh cho người sống xung quanh. Cũng có người mắc bệnh lao phổi nhưng xét nghiệm đờm không tìm thấy vi khuẩn lao (do số lượng vi khuẩn này trong ổ tổn thương ít) thì khả năng lây bệnh ít hơn rất nhiều.

Xem thêm : phác đồ điều trị lao và bệnh lao phổi nên ăn gì ?

Lao ngoài phổi có thể gặp: lao hạch bạch huyết, lao màng phổi, lao màng não, lao màng bụng, lao ruột, lao xương khớp, lao hệ sinh dục - tiết niệu. Những người bị bệnh lao ngoài phổi không có nguy cơ truyền bệnh cho người khác.

Bệnh lao được xếp vào bệnh xã hội, nên được nhà nước quản lý theo hệ thống từ trung ương đến địa phương và điều trị miễn phí.


Bệnh lao phổi do nhiều nguyên nhân gây ra:

Nhiễm vi khuẩn Mycobacterim tuberculosis (còn có tên gọi khác là trực khuẩn Koch): Chính loại vi khuẩn này là nguyên nhân lây truyền từ người này sang người khác thông qua đường hấp chứ không có tính di truyền như nhiều người vẫn lầm tưởng.

Thường xuyên tiếp xúc với môi trường ô nhiễm: Khói bụi, ẩm ướt, nhiều khí uế khiến cho vi khuẩn lao phát triển và gây bệnh.

Tiếp xúc với người mắc bệnh: Việc tiếp xúc với người mắc bệnh lao phổi, hoặc tiếp xúc với chất thải có chứa vi khuẩn lao như nước bọt, đờm, dãi,…

Ngoài ra, việc sử dụng thực phẩm bị nhiễm vi khuẩn lao, vật nuôi nhiễm lao,… cũng là nguyên nhân gây bệnh lao ở phổi.

Các dấu hiệu điển hình thường gặp của bệnh lao phổi


Thông tin đăng tải trên báo Người lao động cho hay, có rất nhiều dấu hiệu để nhận biết bệnh lao phổi, tuy nhiên, không phải ai cũng nắm được để phát hiện bệnh kịp thời. Vì vậy, đại đa số bệnh nhân mắc bệnh lao phổi đều không biết mình mắc bệnh cho đến khi bệnh diễn biến nặng. Dưới đây xin dẫn những dấu hiệu điển hình thường gặp để mọi người có thể đi khám sớm và được điều trị kịp thời.

- Ho: Ho là triệu chứng của mọi bệnh phổi cấp và mạn tính. Ho có thể do nhiều nguyên nhân như viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, lao, ung thư phổi… Mọi bệnh nhân ho trên 3 tuần không phải do viêm phổi, viêm phế quản, giãn phế quản, ung thư phổi mà đã dùng thuốc kháng sinh không giảm ho phải nghĩ đến do lao phổi.

- Khạc ra đờm: Khạc đờm là biểu hiện tăng xuất tiết do phổi phế quản bị kích thích hoặc do có tổn thương tại phổi phế quản. Khạc đờm cũng như ho có thể do rất nhiều nguyên nhân gây ra mà các nguyên nhân thông thường nhất là viêm nhiễm. Do vậy, nếu sau khi đã dùng thuốc kháng sinh, triệu chứng khạc đờm không giảm thì người bệnh có triệu chứng ho khạc trên 3 tuần phải nghĩ đến do lao phổi. Ho khạc đờm là những dấu hiệu hay gặp nhất trong các dấu hiệu quan trọng gợi ý nguyên nhân lao phổi.

- Ho ra máu: Ho ra máu là triệu chứng có thể gặp ở 60% những người lao phổi, thể hiện có tổn thương, chảy máu trong đường hô hấp. Nguyên nhân gây ho ra máu rất nhiều từ các bệnh phổi - phế quản (viêm phổi, viêm phế quản, áp xe phổi, ung thư phổi, phế quản…) đến các bệnh ngoài đường hô hấp như tim mạch (suy tim, tăng huyết áp…), bệnh toàn thân (rối loạn đông máu, chảy máu, thiếu hụt vitamin C…).

- Đau ngực, khó thở: Đau ngực là triệu chứng dễ nhận thấy khi ta bị bệnh lao phổi. Ho nhiều sẽ gây ra ức chế lên phế quản, gây ra tình trạng khó thở, đau ngực, nhất là khi phổi đang bị tổn thương thì khả năng trao đổi khí sẽ càng khó khăn hơn.

- Gầy, sụt cân: Là triệu chứng thường gặp ở số đông người lao phổi. Những người bệnh gầy, sụt cân không rõ nguyên nhân, không phải do tiêu chảy, suy dinh dưỡng, nhiễm HIV/AIDS… nhưng có các triệu chứng hô hấp như đã nêu trên phải nghĩ ngay tới lao phổi.

- Sốt: Là triệu chứng hay gặp ở người lao phổi. Sốt có thể ở nhiều dạng: sốt cao, sốt thất thường nhưng hay gặp nhất là sốt nhẹ hay gai lạnh về chiều. Những người có triệu chứng sốt như trên cùng với các triệu chứng về hô hấp như ho, khạc đờm, ho ra máu… phải nghĩ tới do lao phổi.

- Ra mồ hôi: Là triệu chứng có thể do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong lao phổi, ra mồ hôi là do rối loạn thần kinh thực vật mà người ta thường hay gọi là ra mồ hôi trộm, ở trẻ em triệu chứng này dễ nhận thấy nhất.

- Chán ăn, mệt mỏi: Là dấu hiệu rất phổ biến, có thể do tác động tâm lý, tình trạng sức khỏe, căng thẳng, stress gây nên các ức chế khiến bạn cảm thấy mệt mỏi, thiếu ngủ không muốn ăn uống. Nhiều người bỏ qua dấu hiệu quan trọng này.

Bệnh lao phổi: Nguyên nhân, triệu chứng và những biến chứng nguy hiểm - Ảnh 2
Những biến chứng của bệnh lao nếu không được điều trị?
Theo các bác sĩ bệnh viện Phổi Hà Nội, bệnh lao phổi có nhiều biến chứng. Biến chứng có thể xuất hiện như bệnh cảnh lâm sàng mở đầu, nghĩa là có biến chứng rồi mới phát hiện ra bệnh, hoặc xảy ra trong quá trình tiến triển của bệnh. Các biến chứng hay gặp là:

1. Ho ra máu: có thể ít, vừa hay nhiều. Ho ra máu sét đánh, do bệnh lao làm hoại tử thành của một động mạch, là biến chứng gây tử vong trong vòng vài phút.

2. Tràn khí màng phổi: do vỡ một hang lao vào khoang màng phổi, là biến chứng nặng. Vi trùng lao từ hang lao nhiễm vào màng phổi và gây ra tràn mủ - tràn khí màng phổi. Điều trị khó khăn, vừa điều trị lao, vừa phải đặt ống dẫn lưu màng phổi.

3. Tràn dịch màng phổi: do tiếp cận với một ổ lao phổi đang tiến triển

Biến chứng có thể xảy ra sau khi bệnh lao đã được chữa khỏi tạo thành các di chứng của bệnh lao phổi:

4. Dãn phế quản: có triệu chứng ho đàm và ho ra máu. Không nên lầm lẫn là bệnh tái phát. Chỉ khi tìm thấy vi trùng lao mới là tái phát.

5. Suy hô hấp mãn: khi có di chứng lan rộng làm phổi mất chức năng.

6. Tràn khí màng phổi: do vỡ một bóng khí. Tràn khí này không đi kèm theo nhiễm trùng màng phổi.

7. U nấm phổi: do vi nấm Aspergillus fumigatus sinh sôi trong một hang lao cũ trong phổi. Điều trị bằng phẫu thuật.

Thứ Tư, 12 tháng 7, 2017

Bệnh đường hô hấp và những điều bạn cần biết

Một số bệnh đường hô hấp thường gặp

1. Viêm phổi:  Là  bệnh thường gặp, thể hiện tình trạng viêm nhu mô phổi do tác nhân gây bệnh phần lớn là vi khuẩn. Triệu chứng điển hình là sốt cao, lạnh run, ho khạc đàm mủ và đau ngực kiểm màng phổi (đau khi hít sâu vào, khi ho).  Khi không được chẩn đoán và điều trị kịp thời, viêm phổi thường diễn tiến nặng có thể gây suy hô hấp cấp tính, nhiễm khuẩn huyết và có thể tử vong. Đến gặp bác sỹ sớm để được khám bệnh, chụp X quang phổi, làm xét nghiệm máu và điều trị kháng sinh kịp thời phù hợp là chìa khóa điều trị thành công. Bệnh viêm phổi ở trẻ em

Viêm mũi cũng là 1 trong các bệnh về đường hô hấp.

2. Viêm phế quản: Viêm phế quản là một bệnh hô hấp trong đó màng nhầy trong đoạn phế quản, phổi bị viêm. Khi màng bị kích thích nở ra và phát triển dày hơn, thu hẹp hoặc tắt đường hô hấp nhỏ trong phổi, dẫn đến tình trạng ho, có thể kèm theo đờm và hiện tượng khó thở.

3. Hen phế quản: Có một số triệu chứng như: Ho, khó thở, nặng ngực tái đi tái lại nhiều lần,hay gặp về đêm khuya, nửa đêm về sáng. Do phế quản tăng tiết dịch nhầy và co thắt các cơ phế quản nên rất khó thở, đặc biệt khó thở ra. Khó thở tạo thành tiếng rít, như tiếng cò cử, không cần ống nghe của bác sĩ, người bệnh và người bên cạnh tự nghe thấy tiếng rít khó thở này.

4. Lao phổi - Triệu chứng bệnh lao phổi : Là tình trạng nhiễm trùng phế quản, nhu mô phổi, gây ra bởi vi khuẩn Lao (Mycobacterium tuberculosis). Bệnh lây lan theo đường không khí, vì hít phải vi khuẩn lao do bệnh nhân lao ho khạc ra.

5. Ung thư phổi: Là loại ung thư ác tính nguyên phát thường gặp nhất, hầu hết ung thư phổi bắt nguồn từ lớp da trên niêm mạc của phế quản, nên còn gọi là ung thư phổi phế quản. Ung thư phổi thường để chỉ ung thư trên lá phổi, thông thường không bao gồm các u ở lớp phôi giữa ở màng phổi khác hoặc những loại u ác tính khác như ung thư carcinoid, u hạch ác tính hay các u di căn từ các bộ phận khác.

Bệnh đường hô hấp có triệu chứng

Một số triệu chứng chung của bệnh đường hô hấp như ho, khạc đờm, khó thở và đau ngực, nhưng tùy vào từng mức độ, từng bệnh lý mà bệnh đường hô hấp có những biểu hiện khác nhau. Ví dụ như người bệnh mắc bệnh viêm phổi, viêm phế quản cấp thường có biểu hiện: sốt, ho, khạc đờm mủ,…Người mắc giãn phế quản thường có triệu chứng ho, khó thở, có thể ho từng đợt ra máu. Bệnh hen phế quản thường gặp ở những người trẻ tuổi. Bệnh thường có biểu hiện như ho, khó thở, thở khò khè mỗi khi thời tiết thay đổi. Ngoài ra, một số bệnh đường hô hấp có những biểu hiện bệnh xảy ra ở toàn thân như sốt, khó thở, biểu hiện ở các cơ quan, bộ phận khác, sau đó mới có thể phát hiện ra bệnh hô hấp. Ví dụ như bệnh ung thư phổi có những biểu hiện ban đầu như đau xương, khớp, ngón tay sưng lên, có thể bị đau đầu, liệt nửa người.

Phòng tránh các bệnh đường hô hấp

Bệnh đường hô hấp là một bệnh lây nhiễm, thường do các loại virus gây bệnh, những loại virus này tồn tại trong xung quanh môi trường sống của chúng ta. Vậy để có thể phòng tránh chúng ta cần:

  • Đeo khẩu trang khi tiếp xúc mới mầm bệnh
  • Hạn chế tiếp xúc với bệnh nhân
  • Rửa tay sạch sẽ trước khi ăn, sau khi đi vệ sinh, nên rửa tay bằng xà phòng để có thể loại bỏ virus, để virus không có cơ hội xâm nhập vào cơ thể.
  • Khi thay đổi thời tiết, cần giữ ấm cho cơ thể.
  • Vệ sinh không gian ở thường xuyên, tạo không gian thoáng mát, tránh ở những nơi có độ ẩm cao, đây chính là điều kiện thuận lợi để cho bệnh phát triển.

Thứ Ba, 11 tháng 7, 2017

Các bệnh về mắt cần lưu ý để phòng tránh

Không phải ngẫu nhiên mà đôi mắt được ví như cửa sổ tâm hồn. Một đôi mắt sáng, khỏe sẽ giúp bạn nhìn mọi thứ xung quanh nhanh nhạy hơn, truyền tải suy nghĩ của bạn ra bên ngoài tốt hơn. Và phòng tránh các bệnh về mắt là vấn đề bạn cần quan tâm để giữ cho mình một đôi mắt đẹp.

Khi bước sang tuổi “chín mùa”, các cơ quan trong cơ thể cũng bắt đầu đến kì lão hóa, và mắt là bộ phận rất dễ giảm sút. Các bệnh về mắt đã trở thành nhóm bệnh phổ biến đều có thể gặp ở bất kì người lớn tuổi nào.

3 bệnh về mắt thường gặp ở người già. Triệu chứng đau mắt đỏ


Đầu tiên, có thể kể đến một trong các bệnh về mặt rất hay xuất hiện ở người lớn tuổi là đục thủy tinh thể. Thủy tinh thể là một thấu kính trong suốt, được cấu tạo chủ yếu từ các protein sắp xếp theo một trật tự cố định. Nơi đây thực hiện nhiệm vụ cho tia sáng đi qua và hội tụ lên võng mạc (đáy mắt), rồi được chuyển lên não bộ phân tích qua dây thần kinh thị giác. Tương tự như một chiếc gương, nếu nó bị vẩn đục, hình ảnh phản chiếu lại sẽ bị mờ nhòe, không rõ ràng, màu sắc không chân thực, gọi là bệnh đục thủy tinh thể.

Từ tuổi 60, nhiều người nhận thấy mắt mờ dần, không bị đau nhức, đeo kính nhưng thị lực vẫn không cải thiện. Thì đó là dấu hiệu thủy tinh thể bắt đầu bị đục. 90% nguyên nhân dẫn đến việc người già bị đục thủy tinh thể là do quá trình lão hóa tự nhiên diễn ra. Khi đó, protein tập trung thành đám trước võng mạc, khiến ánh sáng bị tán xạ, tạo ra vùng mờ đục trong thủy tinh thể. Ngoài ra, nếu các yêu tố khác như môi trường ô nhiễm, khói bụi, thực phẩm bị dư tồn chất bảo vệ, thuốc trừ sâu... cũng có thể đẩy nhanh quá trình lão hóa của mắt và làm cho thủy tinh thể bị đục ở độ tuổi sớm hơn.


Bệnh tăng nhãn áp được xem là một trong các bệnh về mắt nguy hiểm nhất và cũng thường xảy ra với độ tuổi lão hóa. Bởi nếu mắc bệnh tăng nhãn áp, người bệnh có thể dễ dẫn đến mù lòa. Tăng nhãn áp xuất hiện do các cấu trúc ở trong mắt bị lão hóa, mất tính đàn hồi và đường thoát của thủy dịch bị bít kín nên thủy dịch không thể thoát ra ngoài được dẫn đến áp suất trong mắt tăng lên. Người già thường mắc vào bệnh này vì thủy tinh thể của họ có kích thước lớn nên dễ gây tắc nghẽn đường thoát của thủy dịch.

 

Bệnh về mắt thứ ba hay gặp ở người gài là bệnh thoái hóa điểm vàng. Bệnh này thì xuất hiện ửo độ tuổi lớn hơn so với các bệnh về mắt đã nêu ở trên. Tầm khoảng từ 60-75 là giai đoạn mắt người già dễ mắc phải triệu chứng bệnh này. Khi đó, vùng hoàng điểm ở võng mạc bắt đầu bị tổn hại, các tế bào tại trung tâm võng mạc suy thoái dần, gây bệnh thoái hóa điểm vàng. Bệnh cũng không gây đau mắt nhưng làm mắt mờ dần theo thời gian. Hiện tại bệnh này ở Việt Nam vẫn chưa tìm ra cách điều trị hiệu quả nào tốt nhất.


Để biết thêm nhiều mối nguy hại nữa cho mắt của người lớn tuổi, hãy tham khảo bài viết những bệnh về mắt để có cách phòng bệnh hợp lý cho bản thân và gia đình bạn

Cách phòng bệnh


Các bệnh về mắt của người gài hầu hết là do lớn tuổi, cơ quan bắt đầu lão hóa nên dẫn đến mắt tổn hại chứ không do một tác động trực tiếp nào từ bên ngoài. Do đó cách phòng bệnh tốt nhất là tích cực phối hợp nhiều biện pháp để làm chậm lại quá trình lão hóa của cơ thể để đôi mắt có thể sáng và khỏe lâu hơn.


Với bệnh đục thủy tinh thể, triệu chứng dễ thấy nhất là suy giảm thị lực. Vì bản chất bệnh không gây đau mắt hay nhức mỏi mắt nên rất khó phát hiện khi bệnh mới hình thành. Để hỗ trợ cho vấn đề phòng bệnh đục thủy tinh thể, nên thiết kế khẩu phần ăn cho người lớn tuổi hợp lý, làm sao giảm lượng protein từ thịt, nên lựa chọn các thực phẩm cung cấp các chất chống oxy hóa có lợi cho mắt như: rau có màu xanh lá thẫm, củ quả nhiều màu sắc, các loại quả hạch (óc chó, hạt điều).


Bệnh tăng nhãn áp là nguyên nhân dẫn đến mắt mù lòa. Bắt đầu từ tuổi 40, bệnh này có thể đã xuất hiện ở mắt. Người lớn tuổi nên định kỳ đến bác sĩ chuyên khoa mắt để khám, kiểm tra nhãn áp nhằm phát hiện bệnh tăng nhãn áp nếu có. Bệnh này cần phải được điều trị sớm ngay từ khi mới bị bệnh, bởi vì khi mắt đã mờ thì không thể điều trị sáng lên được mà chỉ có thể duy trì được tình  trạng mắt hiện tại. Bên cạnh đó, để giúp sức khỏe cơ thể tốt hơn nói chung và làm bảo vệ cho mắt tránh các bệnh về mắt nói riêng, người già cần thường xuyên tập luyện thể dục thể thao, vận động và massage mắt để thủy dịch lưu thông, giúp tế bào thần kinh được khỏe mạnh.

 

Hiện tại, đối với bệnh thoái hóa điểm vàng thì chưa có biện pháp điều trị tại Việt Nam. Chỉ có thể cải thiện bệnh này từ những liệu trình điều trị hỗ trợ để giúp cải thiện tình trạng suy giảm thị lực cho người lớn tuổi. Phương pháp phòng ngừa tốt nhất đối với thoái hóa điểm vàng đó chính là: không hút thuốc lá, ăn nhiều các loại rau quả màu xanh đậm và ít nhất hai bữa cá trên một tuần, nên đi kiểm tra mắt định kỳ để phát hiện những dấu hiệu cảnh báo như mắt mờ dần, mỏi mắt, chảy nước mắt… Bổ sung vitamin cũng là một trong các giải pháp tối ưu hiện nay.

Thứ Sáu, 21 tháng 4, 2017

Hãy giảm mỡ bụng với 5 loại thực phẩm sau đây cho thân hình thon gọn hơn

Những thực phẩm có tác dụng giảm mỡ dưới đây sẽ giúp bạn đánh bay mỡ thừa, sở hữu vòng 2 thọn gọn và săn chắc.

Giảm mỡ bụng với 5 loại thực phẩm sau đây

Một ly nước chanh ấm pha chút mật ong vào mỗi buổi sáng giúp giảm mỡ bụng, giảm cân, đẹp da đẹp dáng.

Chanh

Giảm mỡ bụng với 5 loại thực phẩm

Axit citric và vitamin C trong chanh giúp trung hòa lượng đường trong cơ thể, hỗ trợ đốt cháy chất béo tốt, giúp bạn giảm cân nhanh chóng.

Chanh là loại quả mọng nước, trung bình cứ 100g thịt quả chanh chiếm đến 90% nước, đặc biệt rất giàu vitamin C và axit citric. Vitamin C đốt cháy chất béo, bảo vệ tế bào, làm đẹp da. Axit Citric giúp phân giải chất béo, hỗ trợ hệ tiêu hóa tăng cường trao đổi chất, ngăn hấp thu đường, giúp giảm cân hiệu quả.

Gừng

Gừng có khả năng sinh nhiệt cao đốt cháy chất béo, ngăn ngừa chứng béo bụng hiệu quả là khi tiếp xúc với da. Chất gingerol và shogaol có trong gừng giúp sản sinh nhiệt lượng lớn, thúc đẩy phân bủy mỡ nhanh, ức chế sự hình thành chất béo. Chất gingerol giúp tăng độ pH trong dạ dày, giảm mỡ bụng, giảm cholesterol bảo vệ sức khỏe tim mạch.

Bột quế

Tiêu thụ một phần hai một muỗng cà phê bột quế mỗi ngày giúp giảm cholesterol có hại trong cơ thể một cách đáng kể, đồng thời nó ổn định cholesterol có lợi. Trong thành phần của bột quế chứa một lượng cao polyphenol và hydroxycinnamaldehyde, có ảnh hưởng tới hoạt động chuyển hóa đường của các insulin, chống tích tụ đường tạo thành chất béo gây bệnh tiểu đường.

Các nghiên cứu đã cho thấy, thường xuyên uống chiết suất từ quế giúp giảm mức đường huyết lúc đói, huyết áp và tỷ lệ mỡ trong cơ thể. Quế và mật ong là công thức giảm cân giúp bạn sở hữu vòng hai thon gọn.

Mật ong

Giảm mỡ bụng với 5 loại thực phẩm
Mật ong được xem là thần dược trong giảm cân và làm đẹp của chị em. Chúng có vị ngọt đậm nhưng không gây béo phì, vì chất ngọt trong mật ong được tạo bởi đường fructose không chuyển hóa thành chất béo như đường glucose.

Mật ong chứa đầy đủ các vitamin tự nhiên, chất khoáng và đa dạng các loại acid amin giúp chuyển hóa chất béo, ngăn hấp thụ cholesterol có hại, giảm giảm cân nhanh chóng. Ngoài ra, cũng nhờ thành phần dinh dưỡng khá đầy đủ, nên khi dùng mật ong để giảm cân bạn không lo bị thiếu hụt năng lượng. Mật ong kết hợp với một số thực phẩm khác như chanh, quế, bưởi… mang đến công dụng giảm cân hiệu quả.

Bưởi

Trong bưởi có chứa một số enzyme có tác dụng đốt cháy chất béo nhanh hơn. Các nghiên cứu khoa học cũng cho thấy, enzyme trong quả bưởi cũng ảnh hưởng đến hoạt động của insulin. Nó thúc đẩy insulin chuyển hóa đường nhanh, tránh tích tụ gây bệnh tiểu đường. Bưởi cũng chứa nhiều nước, chất xơ và viatmin C cao giúp tăng cường trao đổi chất trong cơ thể, làm đầy dạ dày, tạo cảm giác no, ngăn thèm ăn.

Trong vỏ, cùi và hạt bưởi còn chứa một hoạt chất giảm cân nhanh là chất pectin. Đây là một dạng chất xơ hòa tan tự nhiên, giúp kéo dài thời gian tiêu hóa thức ăn, giảm hấp thu lipid, giảm cholesterol có hại, ổn định đường huyết và chống táo bón. Mỗi ngày 2 quả bưởi giúp bạn có một vóc dáng thon gọn như ý.